Trong thời gian qua, với nỗ lực của các cấp, các ngành, Đề án phát triển quan hệ lao động tại các địa phương đã được nghiên cứu, xây dựng và thực hiện. Sau một thời gian triển khai, Đề án đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ.
Về hoạt động của tổ chức công đoàn.
Công tác nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức công đoàn cơ sở ở khu vực doanh nghiệp được quan tâm, đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động, hướng đến thực chất. Các cấp công đoàn thường xuyên rà soát, nắm bắt tình hình cán bộ công đoàn, kịp thời củng cố, kiện toàn khi có biến động; mở rộng các hình thức dân chủ để đông đảo đoàn viên được trực tiếp giới thiệu nhân sự, lựa chọn chủ tịch công đoàn cơ sở có khả năng quy tụ, tập hợp người lao động, có tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh, phương pháp mềm dẻo, linh hoạt được đa số đoàn viên, người lao động tín nhiệm đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên, người lao động. Các cấp công đoàn đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ, bảo vệ đoàn viên công đoàn, tăng cường công tác nắm bắt thông tin, đề xuất và phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật lao động và công đoàn; kịp thời phát hiện, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tập thể, cá nhân vi phạm hoặc các hành vi phân biệt đối xử, làm trái quy định pháp luật.
Bên cạnh kết quả đạt được, tổ chức, hoạt động của công đoàn còn có những hạn chế. Nhiệm vụ giữa các cấp công đoàn còn chồng chéo, dàn trải; một số cán bộ công đoàn chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động công đoàn trong tình hình mới. Công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở chưa đạt mục tiêu đề ra, thiếu linh hoạt, sáng tạo trong triển khai các giải pháp gắn với điều kiện thực tiễn. Vai trò của công đoàn cơ sở trong đối thoại, thương lượng, xây dựng quan hệ lao động nhiều nơi còn bất cập, hoạt động còn hình thức, chất lượng đối thoại, thương lượng còn hạn chế; nhiều công đoàn cơ sở chưa thực hiện đầy đủ vai trò của một bên trong quan hệ lao động, chưa dành được sự tin tưởng của người lao động.
Về các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể.
Công tác hướng dẫn, hỗ trợ thúc đẩy đối thoại, thương lượng được cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn ở các địa phương quan tâm, hỗ trợ thông qua các hoạt động, như: bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các bên, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về đối thoại, thực hiện dân chủ ở cơ sở tại nơi làm gắn với đặc thù của từng đối tượng; trực tiếp hỗ trợ các bên trong doanh nghiệp tiến hành các hoạt động đối thoại, thương lượng, thực hiện các hình thức dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc; cung cấp, chia sẻ thông tin về tình hình quan hệ lao động, thông tin thị trường lao động và những vấn đề mà các bên quan tâm để hỗ trợ hai bên tiến hành đối thoại, thương lượng.
Các hoạt động đối thoại được thúc đẩy cả ở cấp doanh nghiệp và cấp ngoài doanh nghiệp, trong đó: đối thoại trong doanh nghiệp ngày càng trở nên phổ biến, với nhiều hình thức đa dạng; đối thoại cấp ngoài doanh nghiệp được nhiều địa phương triển khai, theo nhiều hình thức như: đối thoại chính sách giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp; đối thoại 3 bên giữa cơ quan nhà nước, tổ chức công đoàn, doanh nghiệp; đối thoại giữa cơ quan nhà nước với người lao động.
Thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể có nhiều chuyển biến tích cực. Các cuộc thương lượng đã từng bước đi vào thực chất hơn, tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi người lao động, như: tiền lương, thưởng, tăng thêm ngày nghỉ có hưởng lương, phúc lợi… Số lượng các bản thỏa ước lao động ở doanh nghiệp tăng dần qua các năm. Việc thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp cũng được thúc đẩy ở một số địa phương, ngành, lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực dệt may, thủy sản, điện tử….
Bên cạnh những kết quả đạt được, các hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể trong thực tiễn còn những hạn chế. Hoạt động đối thoại, thương lượng tập thể ở nhiều doanh nghiệp còn mang tính hình thức, chưa thực chất. Đa số các nội dung mang ra đối thoại, thương lượng chủ yếu xuất phát từ phía người sử dụng lao động, các quyền lợi đối với người lao động được thể hiện trong thoả ước chủ yếu được chuyển đổi từ các nội quy, quy chế thuộc quyền quyết định của người sử dụng lao động, rất ít các quyền lợi của người lao động có được xuất phát từ thương lượng thực chất. Vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở trong nhiều doanh nghiệp còn mờ nhạt khi tham gia vào các hoạt động đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Đây là vấn đề rất lớn đặt ra đối với vị thế của tổ chức công đoàn trong thời gian tới khi người lao động trong doanh nghiệp được quyền tham gia thành lập tổ chức của người lao động bên cạnh tổ chức công đoàn.
Từ thực tiễn triển khai thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động tại nhiều địa phương cho thấy nhận thức của các cấp, các ngành về quan hệ lao động trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tiếp tục được nâng lên. Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về quan hệ lao động được củng cố và tăng cường thông qua việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, củng cố tổ chức bộ máy, tăng cường các hoạt động quản lý, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, giám sát, thúc đẩy hỗ trợ các bên trong quan hệ lao động.
CIRD


